Triệu chứng của Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống, nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Tom tat bai viet

Tổng quan bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân là các dấu hiệu lâm sàng tạo ra do kích hoạt toàn bộ hệ thống miễn dịch của cơ thể. Nói cách khác, nó là một phản ứng viêm thông thường.

Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS)  đôi khi bị nhầm lẫn với nhiễm trùng huyết, nhưng có một sự khác biệt quan trọng giữa hai loại này là sự hiện diện của nhiễm trùng. Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân có thể xảy ra sau chấn thương, viêm, thiếu máu cục bộ hoặc nhiễm trùng, trong khi nhiễm trùng huyết chỉ xảy ra với sự hiện diện của nhiễm trùng. SIRS không phải lúc nào cũng xảy ra sau những chấn thương của cơ thể, nhưng nó thường là một biến chứng tiềm năng. Khi có sự hiện diện của nhiễm trùng, SIRS có thể phát triển thành nhiễm trùng huyết nếu không được chữa trị một cách nhanh chóng và thích hợp.

Đối tượng nguy cơ bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Hội chứng đáp ứng viêm xảy ra với tất cả mọi lứa tuổi, từ trẻ em đến người trưởng thành.

Các biện pháp điều trị bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Không có thuốc chọn lọc cho hội chứng đáp ứng viêm toàn thân. Điều trị theo chẩn đoán cụ thể, với bệnh có trước đang diễn tiến, dùng các thuốc phòng biến chứng. Không có thuốc để thay đổi tình trạng đáp ứng viêm toàn thân. Kháng sinh phổ rộng, insulin (ở bệnh nhân tăng đường máu) và nên cân nhắc steroid ở bệnh nhân có tiêu chuẩn phù hợp đáp ứng viêm toàn thân.

 

 

Phòng ngừa bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Phòng ngừa thường quy gồm thông tắc tĩnh mạch sâu và phòng loét tiêu hoá. Kháng sinh kéo dài khi có chỉ định lâm sàng, dùng kháng sinh phổ hẹp khi có thể để tránh bội nhiễm (ví dụ có sốt, thay đổi bạch cầu, hoặc lâm sàng kém đi).

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Chẩn đoán của hội chứng được dựa trên sự hiện diện các triệu chứng nêu trên cùng với một số loại chấn thương trên cơ thể. Khi bác sĩ nghi ngờ hội chứng này, bạn sẽ cần làm các xét nghiệm khác nhau như cấy máu, axit lactic và công thức máu đầy đủ.

Các xét nghiệm chẩn đoán nghi ngờ hội chứng đáp ứng viêm toàn thân là:

  • Công thức máu

  • Cấy máu

  • Nuôi cấy nước tiểu

  • Nuôi cấy đờm

  • Nuôi cấy dịch ở vết thương (nếu có vết thương)

  • Chức năng gan

  • Các enzyme tim

  • Axit lactic

  • Đo các khí máu

  • Phân tích dịch não tủy

Nguyên nhân bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân có thể gây ra do nhiễm trùng. Tuy nhiên, nhiễm trùng không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra các triệu chứng này. Một số nguyên nhân phổ biến nhất gây ra hội chứng này là bỏng, chấn thương, bệnh tim mạch, bệnh phổi do vấn đề tim và đáp ứng chu phẫu của cơ thể, đặc biệt là trong các phẫu thuật tim mạch.

Nguyên nhân tiềm ẩn chung gây ra hội chứng đáp ứng viêm toàn thân:

Nhiễm trùng

  • Viêm phổi

  • Nhiễm trùng vết thương

  • Viêm nội tâm mạc

  • Viêm mô tế bào

  • Nhiễm trùng đường tiết niệu

  • Hội chứng sốc nhiễm độc

  • Hoại tử

  • Viêm màng não

  • Viêm túi mật (nhiễm trùng túi mật)

Không nhiễm trùng

Bỏng, rối loạn tự miễn, xơ gan, mất nước, các chấn thương do điện, xuất huyết, nhồi máu cơ tim, phẫu thuật, phản ứng truyền dịch.

Triệu chứng bệnh Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống

Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống được định nghĩa khi có hai hoặc nhiều tiêu chuẩn sau:

  • Nhiệt độ > 38 °C hoặc <36 °C.

  • Tần số tim > 90 lần /phút (*).

  • Tần số thở > 20 lần /phút (*) hoặc PaCO2 < 4.3 kPa.

  • Bạch cầu > 12 x 10^9/l hoặc 10% bạch cầu non (dạng band).

Đối với hội chứng đáp ứng viêm toàn thân trẻ em, tần số tim và thở tăng trên + 2SD (độ lệch chuẩn) so với giá trị bình thường theo tuổi.

  • SIRS không đặc hiệu và có thể do thiếu máu, viêm, chấn thương, nhiễm trùng hoặc phối hợp nhiều tổn thương gây ra.

  • Nhiễm trùng (infection) được xác định khi vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể tạo ra đáp ứng viêm hoặc sự xâm nhập các vi sinh vật đó vào mô vốn bình thường là vô trùng.

  • Vi khuẩn máu (bacteremia) là sự hiện diện vi khuẩn trong máu, nhưng tình trạng này không phải luôn luôn dẫn đến SIRS hoặc nhiễm trùng toàn thân (sepsis).

  • Nhiễm trùng toàn thân (sepsis) khi có SIRS và nguyên nhân là do nhiễm khuẩn (nghi ngờ hay khẳng định). Ở Việt Nam sepsis đồng nghĩa với nhiễm khuẩn huyết. Chẩn đoán nhiễm khuẩn dựa vào cấy hoặc nhuộm gram (máu, mủ, nước tiểu hoặc các dịch cơ thể khác) hoặc dựa vào lâm sàng (khạc đàm mủ, tiểu mủ, tiêu chảy, vết bỏng có mủ…).

  • Nhiễm trùng toàn thân nặng (severe sepsis) phù hợp với các tiêu chuẩn đã đề cập ở trên và kết hợp với rối loạn chức năng cơ quan, tưới máu kém (hypoperfusion), hoặc hạ huyết áp.

  • Nhiễm trùng dẫn đến hạ huyết áp được định nghĩa khi “huyết áp tâm thu < 90 mm Hg hoặc giảm trên 40 mm Hg so với mức huyết áp ban đầu của bệnh nhân mà không do nguyên nhân khác gây hạ huyết áp.”

  • Bệnh nhân phù hợp với các tiêu chuẩn sốc nhiễm khuẩn nếu có hạ huyết áp kéo dài và bất thường về tưới máu mặc dù đã bù dịch đầy đủ.

  • Hội chứng suy chức năng đa tạng (MODS) là một tình trạng có các rối loạn sinh lý, trong đó chức năng cơ quan không duy trì được sự ổn định nội môi.

Related Post


Nguyên nhân gây Rối loạn gan ở trẻ em, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Rối loạn gan ở trẻ em

Tổng quan bệnh Rối loạn gan ở trẻ em Bệnh gan mắc phải ở trẻ em không thực sự phổ Read more


Nguyên nhân gây Lao ruột, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Lao ruột

Tổng quan bệnh Lao ruột Bệnh lao ruột là gì? Bệnh lao ruột là một thể bệnh lao ngoài phổi, Read more


Điều trị Giãn phế quản, triệu chứng, chẩn đoán, nguyên nhân gây Giãn phế quản

Tổng quan bệnh Giãn phế quản Giãn phế quản là một bệnh lý trong đó phế quản bị giãn rộng, Read more


Nguyên nhân gây Viêm xương tai chũm, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Viêm xương tai chũm

Tổng quan bệnh Viêm xương tai chũm Xương chũm là một bộ phận cấu thành của tai giữa. Xương chũm Read more